Dàn ý cho đề bài: Phân tích tác phẩm Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân

Lập dàn ý cho đề bài: Em hãy phân tích tác phẩm Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân.

A. Mở bài:

Loading...

– Giới thiệu Kim Lân

– Giới thiệu truyện Vợ nhặt

B.Thân bài

  1. Bối cảnh của truyện là khi cái đói hoành hành khắp nơi.

– Cái đói hiện hình cụ thể trên nền không gian ảm đạm đầy ám ảnh của cái chết rình rập cuộc sống những người dân ở xóm ngụ cư. Không gian tối sầm vì đói khát được mô tả đầy ấn tượng: quạ bay, thây người chết còng queo, người sống dật dờ, lặng lẽ như bóng ma.

– Cái đói hiện hình trên gương mặt một anh chàng vô tâm như Tràng, làm thay đổi diện mạo và thói quen cố hữu, đè nặng lên đôi vai, cái lưng gấu, dập tắt “nụ cười tủm tỉm’’. Ngay cả những đứa trẻ cũng “ủ rủ’’. Bầu không gian dự báo tai ương ập đến bất kì lúc nào. Ấy là những ngày đói Ất Dậu khiến những người đã qua năm 200 “nhắc lại vẫn rùng mình’’ (Nam Cao).

  1. Nhưng các nhân vật của truyện thì đứng ở ngưỡng của của cái đói. Nơi ngưỡng cửa khốn khổ đó họ sẽ chứng tỏ số phận và tính cách của mình.

– Sự kiện tương phản với hiện thực là buổi chiều Tràng về làng cùng người đàn bà lạ mặt. Điều không bình thường hiện ra trên khuôn mặt “phớn phở khác thường’’ và nụ cười “tủm tỉm’’ trở lại trên môi Tràng. Điều khác lạ trong thái độ của Tràng thay đổi với đám trẻ con vốn quen suồng sã với anh ta. Sự kiện tạo ra sự tò mò ngạc nhiên từ trẻ con đến người lớn. Niềm vui nho nhỏ lóe lên trong cuộc sống tăm tối đói khát nghèo khổ nhanh chóng bị nỗi lo thường trực về cái đói và cái chết lấn át. Bóng tối mở ra mênh mông, mùi gây của xác người, tiếng quạ vẫn gào lên thê thiết. Nỗi bất hạnh dường như đang chờ ở phía trước.

+ Sự thật quá lớn lao vượt quá suy nghĩ ước mơ thường nhật của anh Tràng nghèo khổ, xấu xí khiến Tràng không nhận biết hoàn cảnh giống mọi người. Choáng ngợp tâm trí Tràng lúc này là hạnh phúc của riêng anh. Kim Lân đã khắc họa những chi tiết thật sống động về một gã trai được vợ “thích ý’’, “cái mặt cứ vênh vênh tự đắc với mình’’. Kim Lân đã lồng vào giữa cảnh đói khát những tiếng cười hóm hỉnh về một anh càng có vợ để xua dần không khí đượm màu tang tóc ra khỏi hạnh phúc giữa hai người.

+ Ngay sau đó, một không gian đượm chất trữ tình đã hiện lên trên “con đường sâu thăm thẳm, luồn giữa hai bờ tre cao vút’’. Chỉ còn “tiếng gió trên bờ tre rì rào và tiếng lá khô kêu sào sào dưới bàn chân’’. Đó là không gian dành cho những đôi lứa tâm tình. Nhưng Kim Lân hoàn toàn không có ý định thi vị hóa câu chuyện, bởi từ suy nghĩ đến lời nói, hành động của các nhân vật vẫn chập chờn những nỗi lo thường trực.

+ Chỉ “trong một lúc’’ ngắn ngủi nhưng nhà văn đã lí giải được sự thay đổi lớn lao trong tâm hồn Tràng, tạo mối dây ràng buộc hai con người khốn khổ lại với nhau. Dẫu chỉ là cảm nhận mơ hồn nhưng Tràng, khoảnh khắc ấy vô cùng thiêng liêng. Hạnh phúc tủm tỉm cười cùng anh, giúp anh “quên hết những cảnh trước mặt sống ê chề, quên cả cái đói khát ghê gớm đang đe dọa, quên cả những tháng ngày trước mặt’’. Rõ ràng, đối với Tràng hạnh phúc không còn là sự vô tình ngẫu nhiên nữa. Nó giúp anh tự tin hơn, tự chủ được tình cảm của mình. Đó cũng là lúc họ nói với nhau bằng ngôn ngữ của vợ chồng, rất quê mùa nhưng cũng rất đáng yêu.

+ Nhưng con đường – hạnh phúc ấy thật ngắn ngủi khi họ chạm vào cái cổng nhà Tràng, bước vào “cái nhà vắng teo rúm ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại’’. Sự thực nghèo khó phơi bày trần trụi khiến hạnh phúc bỗng dưng trở nên chơi vơi.

– Người đàn bà mà số phận đã xô đẩy để đến với Tràng không phải là nàng tiên hạnh phúc. Câu chuyện được kể lại về cuộc gặp gỡ giữa họ quả thật là một chuyện cười ra nước mắt: hai lần gặp gỡ, duyên phận buộc ràng, bốn bát bánh đúc nên duyên vợ chồng.

=>> Kim Lân đã tạo nên những ấn tượng thật khó quên về thị – một kẻ không tên, không tuổi, không nhà, không lai lịch – như một nạn nhân cùng cực đáng thương của cái đói và miếng ăn.

+ Để kiếm miếng ăn, thị dường như đã đánh mất tất ca sự dịu dàng kín đáo thùy mị của người phụ nữ. Ngay từ lúc xuất hiện đầu tiên, thị đã nhảy xổ vào Tràng với tất cả vẻ “cong cớn’’, “ton ton’’ và ỡm ở “liếc mắt, cười tít’’ với gã trai xa lạ. Lần thứ hai, thị xuất hiện với bộ dạng thật thê thảm và cung cách thật khó ưa. Cái đói ghi dấu trên “áo quần trách tả tơi như tổ đỉa’’, dáng vóc “gầy sọp đi’’ và “khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt’’. Đáng sợ hơn, nó không chỉ một con người. Thị “cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì’’, rồi sẵn sàng theo không kẻ cho ăn về làm vợ, chi tiết ấy khiến người đọc thương hại thay cho chị. Nhân phẩm đã mất, dường như thị đã biến thành nô lệ của miếng ăn, bởi sau bữa ăn vội vang thô tục ấy thị còn tiếp tục cùng Tràng “ra hàng cơm đánh một bữa thật no nê’’.

+ Phải đến khi xuất hiện trong xóm ngụ cư, thị mới hiện lên đầy đủ tâm trạng, mặc cảm về thân phận vợ nhặt. Số phận của thị đã ngoặt sang ngõ rẽ mới sau tiếng tặc lưỡi “Chậc, kệ’’ của Tràng. Nhưng cuộc sống tương lai quá mơ hồ với thị. Trái ngược với Tràng, thị bước đi trong dáng “đầu hơi cúi xuống’’, “rón rèn, e thẹn’’, “chân nọ bước díu cả vào chân kia’’. Bởi thị sợ những ánh mắt tò mò sẽ phơi ra sự thật phũ phàng về thân phận vợ nhặt. Đến lúc chỉ còn hai người với nhau, thị cũng không giấu nỗi ánh nhìn “tư lự’’.

+ Ám ảnh thân phận thực sự rõ nét khi thị đã ở trong nhà Tràng, khi đứng trước một hiện thực đáng thất vọng. Kim Lân đã đặc tả vào thái độ của thị như gợi tra bao suy tư sâu sắc về kiếp người trong những ngày đói quay quắt. Cái nghèo gặp cái eo, báo cho họ biết những ngày túng đói đe dọa. Nếu vấn đề của Tràng quẩn quanh trong mong ước tạo nên hạnh phúc bền lâu thì vấn đề của thị lúc này là vượt lên nạn đói. Không có bất cứ một tín hiệu nào bảo đảm cả hai người sẽ vượt qua thử thách của chính mình. Sự chờ đợi thật nặng nề, căng thẳng. Thị đã dễ dàng đến với Tràng thì thị cũng dễ dàng bỏ đi. Nhà văn đã kéo dài khoảnh khắc ấy để giúp người đọc hình dung, giả định những khả năng sẽ xảy ra đến cho nhân vật, để có những suy ngẫm cảm thông, ngậm ngùi cho thân phận con người trong hoàn cảnh trớ trêu.

– Bà cụ Tứ trở về nhà như bổ sung thêm vào bức tranh ảm đảm của cuộc sống nghèo khổ, đói kém.

+ Vẻ lam lũ in hình trên dáng đi “lòng khòng’’, “vừa đi vừa lẩm bẩm tính toán’’. Trong những lo toan của người mẹ, hẳn sẽ không có dự tính nào cho hạnh phúc của con trai trong thời điểm cùng cực đói này. Bởi vậy thái độ của Tràng làm bà ngạc nhiên một thì sự xuất hiện của người đàn bà lạ làm bà ngạc nhiên mười. Sự thực như một ảo ảnh để bà không thể hiểu nổi. Dầu đã có lời chào nhưng lại làm bà rối bời “băn khoăn’’. Vì hơn ái hết bà hiểu cảnh nhà, hiểu hoàn cảnh con mình khong mong có được vợ trong cả lúc yên hàn chứ chưa cần nói đến tao đoạn trần ai này. Nhà văn đã dồn bút lực mô tả phút chờ đợi căng thẳng của đôi vợ chồng mới làm bạn với nhau để người mẹ định đoạt duyên kiếp. Thời gian như kéo dài thêm cùng tâm lí đợi chờ. Lại càng dài hơn khi bà cụ “cúi đầu nín lặng’’ sau khi hiểu ra cớ sự. + Những trang viết xúc động nhất của tác phẩm có lẽ gắn gọn với tâm trạng mừng lo lẫn lộn của bà cụ Tứ. Tấm lòng của một người mẹ thật bao dung và cũng thật đắng cay xa xót. Người đọc có thể nhìn thấy bóng dáng bao bà mẹ thương con đứt ruột trong nỗi lòng bà cụ Tứ. Những xung đột bi kịch được đẩy lên cao trào nhưng cũng được hóa giải phần nào bởi tình thương của người mẹ. Nước mắt mẹ đã lặng lẽ rơi xuống trong mặc cảm thân phận, trong nỗi đau không lo nổi hạnh phúc cho con mình. “Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vưa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình’’. Không khí im lặng u uất bao trùm lên ngôi nhà, tâm tư bà cụ cũng ngập tràn ám ảnh đầy bóng tối: cái đói, cái chết, cái nợ đèo bòng chất thêm gánh nặng. Định mệnh như cười cợ với hạnh phúc, nụ cười của thần chất. Nhưng không thể thắng được một niềm tin của những người chưa tắt hi vọng về tương lai. Tiếng nói đòi quền sống mãnh liệt đã thôi thúc làm nên quyết định rất “nhẹ nhàng’’ trong lời nói của bà cụ Tứ “Ừ, thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng…’’. Hạnh phúc đã vượt qua lực cản đầu tiên.

+ Nhưng cuộc sống thực không hề nhẹ nhàng, vẫn bộn bề chồng chất nỗi lo. Bản thân bà cụ cũng nén chịu vào lòng nỗi đau của riêng mình, đặt vào miệng những lời an ủi nàng dâu mới nhưng “bóng tối trùm lấy hai con mắt bà lão’’. Trong khoảnh khắc, quá khứ tủi cực dồn về cùng suy nghĩ cho tương lai dâu – con. Điều cảm động là tình thương ấy đã xóa nhòa khoảng cách “mẹ chồng nàng dâu’’ nhưng cách cư xử của bà cụ Tứ vẫn còn là sự chịu đựng, chấp nhận hoàn cảnh, chưa phải là sức mạnh để vượt lên hoàn cảnh. Mỗi một lời thân mật với “nàng dâu mới’’ chú đựng bao nỗi niềm u uất để rồi “bà cụ không nói được nữa, nước mắt cứ chạy xuống ròng ròng’’. Bóng tối vẫn mênh mông.

– Kim Lân đã để vào chính lúc ấy, Tràng “đánh diêm đốt đèn’’. Chính nhà văn đã nói về ngọn đèn xua tan bóng tối này: “Ngọn đèn là niềm yêu thương, cảm thông lẫn nhau để cùng vượt lên trên số phận buồn thương của họ’’. Đó là ánh sáng của hi vọng, của quyết tâm tạo dựng cuộc sống mới. Một lần nữa, Kim Lân lại để cho đôi vợ chồng mới còn lại riêng với nhau, trong “ánh đèn vàng đục ở góc nhà tỏa ra ấm áp và kéo dài cái bóng trên vách’’. Nhưng lần này, không chỉ có tiếng họ thì thầm trò chuyện mà còn cả “tiếng hò khóc ngoài xóm lọt vào tỉ tê lúc to lúc nhỏ’’. Hạnh phúc mới phải đối mặt với thực tại cuộc sống những ngày tới của lứa đôi và đêm tân hôn ấm áp tình người đã chống chọi với “tiếng hờ khóc tỉ tê nghe càng rõ’’. Đó là hạnh phúc đòi hỏi con người phải sát lại bên nhau để vượt qua buồn thương số phận, cái đói và cái chết.

2. Đồng thời ở nơi đó họ sẽ bắt đầu một niềm tin mới, một niềm hạnh phúc mới, dù là rất mong manh.

– “Ánh nắng buổi sáng mùa hè’’ đến với Tràng sau đêm tân hồn màu nhiệm đã giúp anh nhận ra tất cả sự “thay đổi mới mẻ, khác lạ’’. Dù ở trong trạng thái “êm ái lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi ra’’ nhưng bước ngoặt cuộc sống của Tràng là sự thực mà chính anh là người hiểu rõ nhất. Đẹp làm sao những cảm xúc của Tràng về tổ ấm của chính anh, gắn với viễn cảnh tương lai sáng sủa như không gian đầy nắng kia. “Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng’’, nguồn hạnh phúc tạo nên từ mối ràng buộc tình cảm và trách nhiệm của Tràng với mẹ, với vợ đã đem lại nguồn hạnh phúc lớn lao hơn cho Tràng. Anh ý thức rõ hơn bao giờ hết quyền được sống làm người, quyền sống của con người. Chính anh chứ không phải ai khác sẽ bảo vệ đến cùng quyền lợi chính đáng ấy.

– Ngày mới đến với thị cũng thật khác lạ, làm nên vẻ đẹp của một cô Tấm bước ra từ quả thị trong cổ tích. Hạnh phúc mới đã trả lại cho thị vẻ “hiền hậu đúng mực’’ và chính bàn tay bừng đẩy chiếc xe bò duyên phận, bàn tay quệt đũa ngang miệng hôm qua, hôm nay đã sắp đặt, sửa sang nhà cửa gọn gàng sạch sẽ. Bàn tay ấy “đang quét lại cái sân, tiếng chổi từng nhất kêu sàn sạt trên mặt đất’’. Âm vang giản dị, bình thường ấy báo hiệu sự hồi sinh, sức sống mới trở lại trong tâm hồn chị. Tưởng chừng mọi nỗi lo đã được giải tỏa khi ngày mới bắt đầu, ngay cả “bà mẹ Tràng cũng nhẹ nhỏm, tươi tỉnh khác ngày thường, cái mặt bủng beo u ám thường ngày đã mất đi mà rạng rỡ hẳn lên’’.

– Nhưng hình ảnh “bữa cơm ngày đói trông thật thảm hại’’ đã cho ta biết tất cả mới chỉ bắt đầu. Cuộc sống mới của gia đình Tràng diễn ra trên nền hiện thực còn nguyên mối đe dọa.

+ Lùm rau chuối thái rối, đĩa muối ăn với cháo, câu chuyện giữa mẹ, con và dâu toàn niềm vui. Không khí “đầm ấm hòa hợp’’ bỗng ngừng lại khi miếng ăn hết nhẵn. Nghịch cảnh lại hé lộ.

+ Kim Lân đã để các nhân vật chống chọi hoàn cảnh ấy mỗi người một cách, tranh đấu quyết liệt với cái đói chết người để bảo vệ quyền sống, hạnh phúc họ vừa có được. Người đọc sẽ lặng đi khi nhìn vào miếng ăn của họ

– “chè khoán’’ của bà cụ Tứ. Người mẹ tội nghiệp ấy đã làm mọi việc có thể để cứu tình thế, ngay cả khi nói rõ là cám vẫn cố đánh lừa cảm giác bằng tiếng cười ra và lời khen “ngon đáo để’’. Người vợ nhặt đã nhận ra sự thực, dẫu “hai mắt thị tối lại’’ nhưng vẫn “điềm nhiên và vào miệng’’. Thị thật đáng thương vì cuộc đời chị cũng sẽ không còn lối thoát nào khác. Tình người thật đáng quý để chị chấp nhận hoàn cảnh ăn miếng ăn của loài vật này. Chỉ có Tràng cảm nhận rõ nhất vị cám “đắng chát và nghẹn bứ’’. Dường như khoảnh khắc ấy đã bùng lên sức mạnh phản kháng trong anh.

+ Bị bủa vây trong vòng cùng quẫn, những con người ấy đã bắt đầu “tránh nhìn mặt nhau’’, “một nỗi tủi hờn len vào tâm trí mọi người’’. Họ tránh nhìn nhau không phải vì sợ hãi, cũng không phải chuẩn bị cho ánh mắt nhìn nhau đầy thủ hận mà tủi hờn chất chứa trong lòng sẽ giúp họ cùng nhìn về một hướng giải thoát khỏi cuộc sống lầm than, hướng đến sự sống, tương lai sẽ khác hơn.

– Kim Lân dựng lên đoạn cuối câu chuyện khi những người cùng khổ này nói về “Việt Minh’’ và hình ảnh đoàn người đói cùng lá cờ đỏ bay phấp phới hiện lên trong óc Tràng. Một kết cục làm rõ tư tưởng của tác phẩm là cần thiết để câu chuyện thoát khỏi lối mòn bi kịch của văn học hiện thực trước Cách mạng viết về những nạn nhân đáng thương bị đè bẹp bởi hoàn cảnh. Nhưng theo sự phát triển của tình huống truyện, dẫu kết cục là nỗi tủi hờn vẫn hàm chứa trong đó sức mạnh phản kháng của những con người từng bước ý thức và làm chủ hoàn cảnh, vượt lên số phận. Đó cũng chính là điểm khác biệt về nhân vật điển hình trong văn học sau 1945 với văn học trước đó.

C. Kết bài

Kim Lân đã ghi dấu ấn của một tấm lòng nhân hậu, đem đến những cảm nhận mới mẻ về con người và khơi dậy sức mạnh tình thương giúp con người vượt qua tất cả trở lực của cuộc sống và bản thân họ. Tác phẩm ấm lòng ta bởi niềm tin vào con người tuyệt đối.

Loading...
Xem thêm:  Dàn ý cho đề: Phân tích bài thơ "Việt Bắc" của Tố Hữu